CHA ĐAMINH MARIA TRẦN Đ̀NH THỦ
1- Tần Số Thánh
3- Sống Thánh I
6- Huấn Thánh I
CD do Nhóm Vào Đời trong số Thân Hữu Đồng Công thực hiện và phổ biến vào Ngày Thánh Mẫu đầu Tháng 8/2007
phần nhạc phụ họa được sáng tác và tŕnh bày bởi Tâm Phương Cao Tấn Tĩnh
và phần nội dung được trích vắn gọn từ tác phẩm của Đaminh Cao Tấn Tĩnh, BVL,
tựa đề
"Cha Đaminh Maria Trần Đ́nh Thủ: Hạt Lúa Miến Mục Nát cho Mùa Thánh Đức Việt Nam"
Bài dưới đây là một phần trong tập sách chỉ để biệt tặng thân hữu cùng theo đuổi Lư Tưởng Thánh Đồng Công hay muốn biết về vị Sáng Lập Ḍng Đồng Công
CHA ĐAMINH MARIA TRẦN Đ̀NH THỦ
LƯ TƯỞNG THÁNH ĐỒNG CÔNG
Hồi kư của Tâm Phương Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL
Muôn vàn tri ân Vị Linh Hướng cho cuộc đời Sống Thánh Chứng Nhân của tôi
Cũng viết tặng những người anh Đồng Công đă giúp đỡ và đồng hành với tôi Sống Lư Tưởng Thánh Đồng Công:
Anh Nguyễn Đức Nghiêm và Nguyễn Châu Diên, 2 người anh cùng lớp tu (1964), lớp học (Đệ Tứ) và lớp khấn (IX);
Anh Nguyễn An Trị, Giám Đốc Đệ Tử Viện Đồng Công (1964-1966);
Anh Trần Trung Thần, Giám Thị Đệ Tử Viện Đồng Công (1964-1966);
Anh Nguyễn Huy Chương và Bùi Anh Tuấn, Đội Trưởng Đệ Tử Viện (1964-1965 / 1965 -1966);
Anh Nguyễn Đức Kiên, người anh đổi tên và là vị Giám Tỉnh cuối cùng (1966, 1982);
Anh Lê An Đại, Phó Giám Thử (1966);
Anh Phạm Tiến Đức, Phó Giám Tập (1966-1967);
Anh Đoàn Phú Xuân, Giáo Sư Hiến Pháp Tục Lệ (1966-1967);
Anh Phan Thiện Giản, vị giáo sư Latinh được chỉ định (1974);
Anh Vũ Vĩnh Quí, người anh tổ phụ thân hữu Đồng Công.
Cuộc Hạnh Ngộ Cuối Cùng
Phải, vị linh hưởng khả kính khả ái của tôi là Cha Đaminh Maria Trần Đ́nh Thủ đă vĩnh viễn ra đi về với Chúa vào ngày 21/6/2007, ngày mà đúng 43 năm trước, 21/6/1964, tôi đă bắt đầu tập tễnh theo đuổi Lư Tưởng Thánh Đồng Công từ đệ tử viện của nhà ḍng ở Thủ Đức.
Tôi đă ước ao được gặp vị linh hướng duy nhất của cuộc đời tôi này một lần cuối cùng, nhất là vào năm ngài được đúng 100 tuổi. Và Thiên Chúa quả thực đă đáp lại ước vọng hết sức thiết tha và chân t́nh của tôi, khi cho tôi được gặp ngài vào chiều Thứ Sáu mùng 7 tháng 7 năm 2006, từ 4 giờ đến 4 giờ 30 chiều, trong pḥng riêng của ngài. Một tháng sau, vào chính ngày lễ Thánh quan thày Đaminh của ngài, 8/8/2006, ngài đă được đưa vào bệnh viện v́ bị tai biến mạch máu năo, và trở nên tê liệt và hầu như bị cấm khẩu cho đến khi qua đời. Thật là may cho tôi, tôi đă được diễm phúc gặp lại vị linh mục dẫn dắt tôi theo đuổi Lư Tưởng Thánh Đồng Công này tại pḥng riêng của ngài, sau 31 năm xa cách. Ngài vẫn c̣n nhớ tôi.
Đúng thế, hôm ấy hai cha con chúng tôi đă nằm để hàn huyên tâm sự với nhau. Theo thói quen hăm ḿnh không thay đổi, ngài vẫn nằm trên nền nhà. Hôm ấy, v́ yếu bệnh, ngài phải nằm ban ngày và nằm nghiêng về phía bên phải, lưng quay vào tường, để nói chuyện với tôi. Tôi cũng đă nằm sấp, hướng mặt về ngài, để nói chuyện với ngài. Ngày xưa, khi c̣n được ở bên ngài, hai cha con nói chuyện với nhau, một là bằng cách đi đi lại lại ở ngoài hàng hiên gần pḥng của ngài, hai là ngồi dựa tường bên nhau trên nền nhà ở trong pḥng của ngài, cho đến khi hết chuyện.
Phải, hôm ấy, trong mấy câu chào hỏi hết sức thân thương ban đầu, tôi đă lợi dụng câu ngài hỏi tôi hiện đang ở đâu, để bắt đầu nhập cuộc. Tôi thưa ngài rằng tôi ở Mỹ về, rồi từ đó kể cho ngài nghe t́nh h́nh sống đạo bên Mỹ liên quan tới đức tin, tới thánh đức. Thế là ngài đă thật sự trở nên hào hứng hơn bao giờ hết, có lúc ngài đă vỗ vai tôi mà nói, mà khuyên giục. Tôi c̣n nhớ hai câu nói lập đi lập lại của ngài, nguyên văn như sau: “Ngày nay người ta bỏ đạo, mất đức tin mà không biết…. Ở bên Mỹ mà c̣n giữ được đức tin là một phép lạ đấy!”
Phần tôi, trước khi cùng với 2 cháu trai qú xuống xin ngài ban phép lành tràn đầy ân phúc từ cuộc đời thánh đức của ngài, như xin ngài tiếp tục truyền nội lực thánh thiện của ngài cho ḿnh, tôi đă nói những lời từ biệt (mà tôi biết cũng là lời vĩnh biệt) sau đây (vẫn theo tinh thần b́nh dân gọi nhau là anh em của Ḍng Đồng Công): "Em cùng gia đ́nh em về thăm Anh nhân dịp mừng Anh 100 tuổi. Trước hết để tỏ ḷng tri ân cảm tạ Anh. V́ không có Anh em đă không được như ngày hôm nay, và không có được một gia đ́nh như bây giờ. Tuy em không c̣n chính thức là một tu sĩ Đồng Công trong Ḍng, song em vẫn tiếp tục theo đuổi Lư Tưởng Thánh Đồng Công, vẫn cố gắng sống theo những ǵ Anh Cả đă truyền đạt cho em. Xin anh cầu cho em để em có thể trở thành một 'Đồng Công Nằm Vùng', để Tinh Thần Đồng Công có thể thấm sâu vào ḷng đời hơn, trở thành men trong bột nơi tất cả môi trường sống và hoạt động tông đồ của em!"
Tôi hoàn toàn thâm tín và cảm nghiệm như thế. Cái di sản vô giá ngài để lại cho tôi đó là chính cái căn tính (ID) Đồng Công, là Lư Tưởng Thánh Đồng Công, ở chỗ theo đuổi Lư Tưởng Thánh trước hết và trên hết, chỉ biết t́m Nước Chúa và sự công chính của Người trước (x Mt 6:33), một Lư Tưởng Thánh được hiện thực nơi ba tinh thần nồng cốt của ḍng là Bỏ Ḿnh, Yêu Nhau và Tận Hiến, cũng như nơi ba ḷng tôn sùng đặc biệt của ḍng là ḷng tôn sùng Đức Thánh Cha, Thánh Mẫu và Thánh Thể.
Tôi phải cám ơn Chúa cho tôi được gặp ngài, dù không được ở gần ngài cho tới giây phút ngài ĺa đời. Tôi nghĩ Thiên Chúa là Đấng thấu suốt mọi sự, biết rơ là tôi hết ḷng biết ơn ngài, hết ḷng cảm phục ngài, hết ḷng gắn bó với ngài, đă cho tôi được măn nguyện gặp ngài lần cuối, vào hôm ấy, dù chỉ nửa tiếng đồng hồ. Nếu tôi về muộn 1 tháng thôi, kể như chỉ c̣n biết rơi lệ nh́n ngài! Tôi có ư định sẽ về để tham dự lễ an táng ngài, nhưng v́ bận bịu công vụ dồn dập không thể bỏ đi và v́ thủ tục xin visa lâu la nên tôi đành ngậm ngùi theo dơi diễn tiến và h́nh ảnh cuối đời của ngài qua các điện thư của nhà Ḍng.
Cuộc Khổ Nạn Cuối Đời
Vào đầu tháng 8/2006, ngài đă bị tai biến mạch máu năo mà không biết. Vào ngày 8/8 ngài mới được đưa vào bệnh viện để chữa trị. Sau khi ở bệnh viện này một ngày một đêm, ngài vẫn không khá hơn mà lại tỏ ư muốn về nhà ḍng. V́ tại bệnh viện ngài không ăn được và ngủ được, có lẽ là v́ nhớ anh em.
Vào ngày 11/8, sức khỏe của ngài càng ngày càng tệ. Ngài chỉ ăn được cháo và phải có người đút cho. Ăn uống chẳng c̣n ra bữa, lúc nào đói th́ ăn, bất kể ngày đêm. Có ngày không ăn ǵ nhưng ban đêm lại ăn hai lần. Vấn đề vệ sinh th́ hoàn toàn không c̣n làm chủ được nữa, ngài phải mang tă. Tất cả mọi sự đều nhờ anh em giúp. Hoàn toàn cải lăo hoàn đồng về thể lư. Ngài không c̣n dâng lễ được nữa, mà c̣n chỉ chịu Ḿnh Thánh được thôi. Ngài nói rất khó nghe, v́ lưỡi không c̣n cử động dễ dàng như trước. Tay phải và chân phải bị liệt, phải ngồi trong xe lăn.
Ngày 03/01/2007, ngài rất yếu mệt, sau mấy ngày liền không ăn ngủ ǵ, nên anh em Ḍng đă đưa ngài đi cấp cứu tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương, quận 5, và ngài tỏ ra rất sẵn sàng về với Chúa sau khi lănh phép Xức Dầu và của Ăn Đàng. Nhờ ăn bằng ống và thở bằng ống, sức khỏe ngài khả quan hơn một chút. Theo bác sĩ th́ ngài vẫn c̣n bị triệu chứng tai biến mạch máu năo, viêm phế quản măn tính, viêm phổi măn tính và huyết áp thấp.
Nhưng với những lời cầu nguyện và hy sinh thiết tha của anh em Ḍng cũng như của những người thân quen, Chúa và Đức Mẹ lại thương đưa ngài về chung sống với đoàn em vào ngày 09.01.2007, nhưng vẫn phải tiếp tục ăn bằng ống.
Ngày 11.06.2007, bệnh t́nh ngài trở nặng, anh em ḍng lại đưa ngài đi cấp cứu. Ngày 15/06/2007, bệnh ngài trở nên nguy kịch, các bác sĩ quyết định đưa ngài vào pḥng hồi sức đặc biệt. Ngài rất khó thở và phải thở bằng ống. Các bác sĩ nói họ không ngờ ngài có thể sống được tới bấy giờ, và không c̣n sống được bao lâu nữa.
Thật vậy, mọi phương cách đều phải khuất phục Thánh ư Chúa và Người đă gọi ngài về với Người lúc 8 giờ 45 tối Thứ Năm ngày 21/06/2007, tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương, hưởng thọ 101 năm tuổi.
Trời Canvê Ngày An Táng
Suốt thời gian quàn ngài trong nhà nguyện, ngày nào cung mưa, có khi mưa rả rích suốt đêm và mưa lớn ban ngày, giông gió giật mạnh làm các tấm dù căng trên lễ đài phải giăng kéo bằng nhiều sợi dây cáp và dây dù. Việc căng các biểu ngữ cũng gặp phải nhiều khó khăn v́ "mưa".
Ngày 25 phải đội mưa để căng cho xong, thế mà, sáng ngày 26 trời vẫn mưa rả rích cho đến 6g30 sáng th́ tạnh hẳn. Lúc này phải đi lau từng chiếc ghế đă kê trong lễ đài ... trời mát và có chút gió.
Nghi thức di quan lúc 7g15 và đến 7g35 mới chính thức làm dấu đầu lễ th́ bầu trời đă có nắng, ít mây hơn. Đôi lúc cũng có nắng gắt. Nhưng đến quăng 8g15 th́ trời kéo nhiều mây đen hơn, đe dọa, cũng có ít hạt mưa đâu đó và bầu trời tối hơn... Chừng một khắc sau trời lại trở lại quang đăng b́nh thường với chút nắng cho đến xong lễ.
Lúc Di quan tiễn ngài ra đất thánh cũng chỉ có nắng nhẹ, mát mẻ hơn nhưng khoảng 9g50 th́ mây đen kịt kéo đến che lấp cả bầu trời. Ai cũng nghĩ là không xong, chắc phải đội mưa mà an táng cho xong. Ban tổ chức đă mua sẵn 5000 áo mưa du lịch để sẵn, nếu cần th́ mặc vào và dự cho đến hoàn tất và nhất định không chạy mưa v́ chỗ đâu mà chạy. Nhưng mọi ư nghĩ của con người chẳng phù hợp với ư nghĩ của Chúa. Chừng một khắc sau trời lại quang đăng cho đến khi an táng xong. Trời nắng gắt hơn một chút v́ đă hơn 10g.
Bài Giảng Lễ An Táng của Đức Cha Đà Nẵng
Sau đây là một số đoạn chính yếu tiêu biểu trong bài giảng dài 17 phút của Đức Cha Châu Ngọc Tri, Giám Mục Giáo Phận Đà Nẵng, cho Lễ An Táng của Cha Thủ:
“Kính thưa Cộng Đoàn Phụng Vụ,
“Hôm nay, giữa cộng đoàn đông đủ của chúng ta không phải chỉ có một người chết. V́ là cái đinh của buổi lễ hôm nay chín h là Cha Đaminh Maria Trần Đ́nh Thủ, đă sống trên 100 năm, 70 năm linh mục, là vị sáng lập Ḍng Đồng Công. Và c̣n một người thứ hai nữa không biết chúng ta có để ư không? Đây là một người đàn ông chỉ 33 tuổi…
“Hai cái chết, hai cuộc đời. Cuộc đời Đấng Cứu Thế và c uộc đời của người đi theo Đấng Cứu Thế. Cái chết của Thiên Chúa làm người và cái chết của con người. Cuộc đời này là cảm hứng cho cuộc đời kia. Cái chết này là bảo đảm chắc chắn cho cái chết nọ…
“Được tin Cha Đaminh Maria qua đời, một linh mục có tuổi đang nói chuyện với tôi, đă nhận định ngay rằng Cha Thủ có lẽ sẽ nên thánh cả chiếu lẫn giường…
“Tôi không muốn kể lễ dài ḍng về cuộc sống của ngài. V́ tôi không được biết nhiều, và tôi cũng không có quyền phong thánh cho ngài. Nhưng mà những ǵ tôi nghe được, những ǵ đang diễn ra hôm nay trước mắt chúng ta, với đông đảo các linh mục tu sĩ nam nữ và giáo dân trong một mầu trắng tang chế thương tiếc, cho tôi cái cảm giác rằng ngài đă nên thánh và ngài đang sống trong b́nh an, trong hạnh phúc. Bởi v́, cuộc đời của ngài đă chọn những phương tiện nên thánh chắc chắn nhất, đó là thập giá Đức Giêsu (biệt chú của người viết, trong cuốn video những năm cuối đời của ngài cho thấy ngài hôn Thánh Giá rất lâu trước khi ngủ và đặt Thánh Giá trên môi trong khi ngủ), với cuộc sống đầy khổ hạnh của ngài, và Đức Maria mà ngài đă nhận làm Mẹ và làm Mẹ của cả hội ḍng ngài thành lập…
“Cha Đaminh Maria, từ ngày thành lập, đă đem Mẹ về ḍng ḿnh. Khi chọn tên gọi cho ḍng là Ḍng Đồng Công. Và hơn thế nữa, ngài c̣n muốn mọi thành viên của ḍng đem mẹ về nhà ḿnh bằng cách đặt tên hiệu của Mẹ sau tên thánh rửa tội của ḿnh. C̣n chính ngài mang tên thánh là Đaminh Maria…
“Thân xác cha Đaminh Maria đang c̣n ở đây với chúng ta trong phút chốc nữa. Ngài đang tham dự Thánh Lễ sau cùng với chúng ta, rồi thân xác ngài sẽ được vú sâu vào ḷng đất này. Nhưng đức tin của ngài, gương sống của ngài, sự nghiệp Đồng Công của ngài, tôi tin rằng sẽ măi c̣n tồn tại…
“Cùng Cha Đaminh Maria. Chúc mừng cha được Chúa gọi về. Chúc cha luôn b́nh an hạnh phúc. Và một chút riêng tư, tôi cũng gửi lời thăm Đức Cha Phêrô Maria Phạm Ngọc Chia, Giám Mục tiên khởi giáo phận Đà Nẵng, vị tiền nhiệm đáng kính của con. Chính người đă ban sắc thành lập Ḍng Đồng Công ngày 2/2/1953 tại Bùi Chu, và cũng chính ngài đă nhận lời khấn trọn đời của cha Đaminh Maria vào ngày 2/2/1955 tại nhà thờ Gia Định.
“Cùng anh em trong đại gia đ́nh Đồng Công. Xin chia buồn trước sự ra đi của Người Anh Cả của anh em. Như Chúa Kitô đă chết để Giáo Hội lớn mạnh, Chúa gọi người Anh Cả về để gia đ́nh Đồng Công được thêm phát triển. Kính chúc anh em luôn thăng tiến...”
Hạt Lúa Miến Mục Nát…
Lễ an táng của ngài được tường tŕnh là có trên 4000 giáo dân, 1200 tu sĩ nam nữ, 210 vị linh mục, 3 đan viện phụ và 2 giám mục, chưa kể 100 công an được sai phái đến để giữ trật tự và đề pḥng bất trắc xẩy ra.
Theo tôi, trong một thời điểm đang hết sức căng thẳng và sôi động tại Việt Nam về t́nh h́nh đàn áp thành phần lên tiếng về nhân quyền mà lại có một cuộc tụ họp đông đảo như vậy th́ phải kể là sự lạ, như đám tang có thể nói là vĩ đại nhất trong lịch sử loài người diễn ra ở Vatican hôm Thứ Sáu 8/4/2005, với 500 ngàn người tại ngay Quảng Trường Thánh Phêrô, bao gồm trên 300 vị đại diện chính trị và tôn giáo, 600 ngàn người ở các vùng lận cận theo dơi bằng màn ảnh lớn, mà không xẩy ra một bất trắc nào, trong thời điểm đang gia tăng nạn khủng bố toàn cầu.
Nếu năm 1987, cá nhân Cha Thủ và cộng đồng Ḍng Đồng Công đă bị công an đầu tiên bắt v́ tội “tụ họp bất hợp pháp” 60 người thuộc tổ chức Gia Đ́nh Đồng Công ở Nhà 30 Gian sát ngay nghĩa trang, th́ 20 năm sau, một cuộc tụ họp khác c̣n đông gấp trăm lần như vậy, được 100 công an sai đến canh giữ trật tự, không phải là sự lạ hay sao?
Cả việc thẩm quyền địa phương không cho phép ngài được chôn táng ngài tại nội vi của nhà ḍng, song phải mang ra nghĩa trang mà chôn, cũng không ngoài ư Chúa. Theo lịch sử, nếu cộng sản đă hết sức khôn khéo t́m cách chống phá Giáo Hội Công Giáo nói chung và Giáo Hội Balan nói riêng, mà vẫn từ ngay nước cộng sản Balan này xuất hiện một vị Giáo Hoàng không phải người Ư sau 455 năm thế nào, th́ nơi trường hợp đổi chỗ an táng cho Cha Thủ cũng chất chứa một ư nhiệm nào đó.
Phải chăng, v́ Cha Đaminh Maria Trần Đ́nh Thủ là của mọi người, nên ngài thuộc về mọi người, chứ không riêng của Ḍng Đồng Công, v́ ngài chẳng những được Chúa dùng để sáng lập Ḍng Đồng Công mà c̣n được sai đến để lo huấn thánh cho người Việt Nam, nơi hội ḍng Việt Nam đầu tiên do ngài lập nên chính v́ mục đích này, và, v́ ngài đă thiết tha với đất nước dân tộc Việt Nam, bằng việc liên lỉ xin ơn ḥa b́nh cho Việt Nam, qua các kinh nguyện của ngài dọn cho anh em ḍng đọc?! Phải chăng biến cố đổi chỗ chôn táng Cha Đaminh Maria Trần Đ́nh Thủ này đă ứng nghiệm lời Chúa: “Không ai thắp đèn rồi để dưới đáy thùng, song đặt nó trên giá để nó soi sáng cho cả nhà” (Mt 5:15)!?
Tóm lại, cuộc đời của vị linh mục được Thiên Chúa sử dụng sáng lập Ḍng Đồng Công chẳng khác ǵ bầu trời Canvê như ngày an táng ngài. Cuộc khổ nạn cuối đời của ngài cũng tương tự như cuộc khổ nạn của Đức Gioan Phaolô II, vị Giáo Hoàng đă không nói được nữa vào chính lúc ban huấn từ Lạy Nữ Vương cho Chúa Nhật Phục Sinh 27/3/2005, và đă bị hôn mê rồi qua đi trong bệnh tật hôm Thứ Bảy 2/4, sau khi nhập bệnh viện mấy lần, v́ những chứng bệnh trầm trọng khác nhau, như bị đột xuất nhiễm trùng, bị hư tâm mạch bất khả văn hồi, bị xưng ống tiểu tiện v́ nhiễm trùng, bị tăng áp huyết tim và thiếu máu cục bộ.
Cuộc khổ nạn của Cha Đaminh Maria Trần Đ́nh Thủ cũng thế, cũng hầu như bị cấm khẩu và nhập bệnh viện mấy lần v́ các chứng bệnh khác nhau, như bị tai biến mạch máu năo, viêm phế quản măn tính, viêm phổi măn tính và huyết áp thấp. Thậm chí, như Chúa Giêsu trong cuộc Khổ Nạn và Tử Giá đă không c̣n h́nh thù loài người và dung nhan con người thế nào (x Is 52:13-14), vị linh mục sáng lập Ḍng Đồng Công biệt danh Đaminh Maria Thánh Giá cũng đă hoàn toàn biến dạng và biến diện, không c̣n tầm vóc cân đối và khuôn mặt đẹp lăo của ngài nữa, khi ngài vào bệnh viện lần cuối! Tôi đă giật ḿnh đến kinh sợ khi nh́n thấy tấm h́nh của ngài đang nằm trên giường vào những giờ phút cuối cùng, được một người con của anh em thân hữu Đồng Công ở Việt Nam đă chụp lén nhà thương.
Một trùng hợp nữa, ngoài cuộc khổ nạn cuối đời, giữa Cha Đaminh Maria và Đức Gioan Phaolô II, vị Giáo Hoàng “totus tuus”, đó là cả hai đă sống đời tận hiến cho Mẹ Maria theo đường lối của Thánh Long Mộng Phố (Louis Montfort) trong tác phẩm Luận Về Ḷng Thành Thực Sùng Kính Mẹ Maria của thánh nhân, một cuốn cẩm nang Thánh Mẫu mà tu sĩ Đồng Công phải học hỏi trong năm tập, một thời gian được mở màn bằng Lễ Nghi Tận Hiến cho Mẹ và được kết thúc bằng lời khấn tạm lần đầu.
Phải chăng các vị thánh đều có một thân mệnh giống nhau, đó là được phúc uống chén đắng với Thày (Mt 20:22-23): “Thày đi để dọn chỗ cho các con, rồi Thày sẽ trở lại với các con, để Thày ở đâu các con cũng được ở đó với Thày” (Jn 14:3)?
Đúng thế, nếu ngay ở đời này, vị linh mục được ơn sáng lập Ḍng Đồng Công vào chính ngày Lễ Mẹ Đau Thương 4/4/1941 đă được Chúa Kitô Khổ Nạn và Tử Giá trở lại để đem ngài đi đến “chỗ” của Người, và ngài đă thực sự được mai táng với Người qua tất cả mọi khổ đau về cả tâm hồn lẫn thể xác của ḿnh trong cuộc hành tŕnh đức tin kéo dài trên 100 năm theo Người, th́ ngài cũng sẽ được chung phần vinh quang phục sinh với Người (x Rm 6:4), như một hạt lúa miến mục nát đi…
Biết đâu, sau 5 năm được cải táng để bắt đầu tiến tŕnh phong thánh cho ngài, người ta thấy được chẳng những một thân xác không hư thối, mà c̣n trở lại nguyên dạng, không c̣n dị dạng như trước khi chết nữa. Chính việc biến đổi này, nếu xẩy ra, th́ thực sự là dấu chứng cụ thể chẳng những cho thấy dấu vết phục sinh của ngài mà c̣n cả thánh đức của “Cha Thánh Thủ” nữa vậy.
Cha Thủ - Tần Số Thánh
|
T |
hật là may cho tôi, tôi đă được diễm phúc gặp lại vị linh mục dẫn dắt tôi theo đuổi Lư Tưởng Thánh Đồng Công này tại pḥng riêng của ngài. Ngài vẫn c̣n nhớ tôi. Ngài đă tiếp tôi, không phải là 5 hay 6 phút như mọi trường hợp khác, và như tôi đă được các vị thẩm quyền trong ḍng bấy giờ dặn ḍ kỹ lưỡng trước khi tôi được vào gặp ngài. Khi vào tới nơi th́ quả thực mới hiểu được lư do tại sao mọi người chỉ được gặp ngài 5 hay 6 phút. Ở chỗ, sức khỏe của ngài không cho phép! Đúng thế, hôm ấy hai cha con chúng tôi đă nằm để hàn huyên tâm sự với nhau. Theo thói quen hăm ḿnh không thay đổi, ngài vẫn nằm trên nền nhà. Hôm ấy, ngài nằm nghiêng về phía bên phải, lưng quay vào tường, để nói chuyện với tôi. Tôi cũng đă nằm sấp, hướng mặt về ngài, để nói chuyện với ngài.
Ngày xưa, khi c̣n được ở bên ngài, hai cha con nói chuyện với nhau, một là bằng cách đi đi lại lại ở ngoài hàng hiên gần pḥng của ngài, hai là ngồi dựa tường bên nhau trên nền nhà ở trong pḥng của ngài, cho đến khi hết chuyện. Ngài không bao giờ ép ai gặp ngài, trừ khi ngài có chuyện cần gặp họ về vấn đề trách vụ của họ, hay liên quan đến vấn đề trầm trọng cần phải sửa ḿnh để nên thánh của họ. Trong cuộc gặp gỡ, ngài cũng không hạch hỏi hay đi sâu vào tâm hồn những ai xin gặp ngài, nếu họ không tự động tỏ ra cho ngài.
Tuy nhiên, ngài có thể thấu biết được t́nh trạng tâm hồn anh em của ngài hơn ai hết, thậm chí hơn cả chính họ nữa. Bởi vậy, có những người xin gặp ngài mà không được, trái lại, chỉ nhận được một câu nói vắn gọn của ngài: “cứ thế mà sống”. Hay có được gặp ngài th́ chỉ rất vắn tắt ngắn ngủi, bởi v́ hầu như chỉ có họ nói, nói tất cả những ǵ đầy lên trong óc của họ, đến nỗi họ viết cả ra giấy kẻo quên. Phần ngài, những ǵ được bàn hỏi, ngài trả lời vắn tắt, và những ǵ được tâm sự, ngài nghe biết vậy, cuối cùng, nếu cần, như một vị lang y, ngài bốc cho một thang thuốc thiêng liêng vắn tắt, bằng những lời khuyên hợp với từng tâm hồn, từng trường hợp, mà nếu họ tin tưởng và áp dụng thực hành, họ sẽ cảm thấy lời ngài dạy hoàn toàn là một phương dược linh nghiệm cho cuộc đời tận hiến theo đuổi Lư Tưởng Thánh Đồng Công của họ.
Trong dịp được gặp ngài lần cuối cùng, giữ đúng lời hứa với những người anh em có trách nhiệm về thời lượng vắn vỏi được diện kiến với ngài, một thời lượng để đủ chào hỏi vài ba câu theo kiểu xă giao bề ngoài, sau khi nói chuyện với ngài được khoảng đúng 5-6 phút, tôi hỏi ngài có mệt không, ngài nói không, rồi ngài tự động tiếp tục nói chuyện với tôi, (làm cho bên ngoài hết sức thắc mắc nhưng không dám can thiệp vào nội bộ giữa ngài và tôi), cho đến đúng nửa tiếng (từ 4 đến 4 giờ 30 chiều), khi chính tôi, v́ giờ giấc hạn hẹp theo lịch tŕnh du lịch, đành phải “đoạn trường tân thanh” chấm dứt cuộc gặp gỡ lịch sử cuối cùng không bao giờ quên được này, không bao giờ tái diễn ấy.
Sở dĩ tôi có thể nói chuyện lâu với ngài như thế là v́, có thể nói, tôi đă bắt được trúng tần số của ngài, một tần số tôi đă quá quen thuộc. Như vị đương kim Giáo Hoàng Biển Đức XVI của chúng ta, khi c̣n là Hồng Y Tổng Trưởng Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin Joseph Ratzinger đă biết được tần số của Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thiên về triết lư nói chung và luân lư thần học vậy (xem tác phẩm Muối Đất - Salt of the Earth, ấn bản Anh ngữ, Ignatius Press, 1997, trang 10), hay tần số của chính vị đương kim Giáo Hoàng Biển Đức XVI này là phụng vụ, giáo hội và đức tin (cùng nguồn trang 49, 65-66). Vậy tần số của vị linh hướng đáng kính đáng mến của tôi đây là ǵ, nếu không phải là chính Lư Tưởng Thánh Đồng Công!
Phải, hôm ấy, trong mấy câu chào hỏi hết sức thân thương ban đầu, tôi đă lợi dụng câu ngài hỏi tôi hiện đang ở đâu, để bắt đầu nhập cuộc. Tôi thưa ngài rằng tôi ở Mỹ về, rồi từ đó kể cho ngài nghe t́nh h́nh sống đạo bên Mỹ liên quan tới đức tin, tới thánh đức. Thế là ngài đă thật sự trở nên hào hứng hơn bao giờ hết, có lúc ngài đă vỗ vai tôi mà nói, mà khuyên giục. Tôi c̣n nhớ hai câu nói lập đi lập lại của ngài, nguyên văn như sau: “Ngày nay người ta bỏ đạo, mất đức tin mà không biết…. Ở bên Mỹ mà c̣n giữ được đức tin là một phép lạ đấy!”
Phần tôi, trước khi cùng với 2 cháu trai qú xuống xin ngài ban phép lành tràn đầy ân phúc từ cuộc đời thánh đức của ngài, như xin ngài tiếp tục truyền nội lực thánh thiện của ngài cho ḿnh, tôi đă nói những lời từ biệt (mà tôi biết cũng là lời vĩnh biệt) sau đây: "Em cùng gia đ́nh em về thăm Anh nhân dịp mừng Anh 100 tuổi. Trước hết để tỏ ḷng tri ân cảm tạ Anh. V́ không có Anh em đă không được như ngày hôm nay, và không có được một gia đ́nh như bây giờ. Tuy em không c̣n chính thức là một tu sĩ Đồng Công trong Ḍng, song em vẫn tiếp tục theo đuổi Lư Tưởng Thánh Đồng Công, vẫn cố gắng sống theo những ǵ Anh Cả đă truyền đạt cho em. Xin anh cầu cho em để em có thể trở thành một 'Đồng Công Nằm Vùng', sống ở thế gian mà không thuộc về thế gian, như men trong bột!"
Tôi phải cám ơn Chúa cho tôi được gặp ngài, dù không được ở gần ngài cho tới giây phút ngài ĺa đời. Tôi nghĩ Thiên Chúa là Đấng thấu suốt mọi sự, biết rơ là tôi hết ḷng biết ơn ngài, hết ḷng cảm phục ngài, hết ḷng gắn bó với ngài, đă cho tôi được măn nguyện gặp ngài lần cuối, vào hôm ấy, dù chỉ nửa tiếng đồng hồ. Nếu tôi về muộn 1 tháng thôi, kể như chỉ c̣n biết rơi lệ nh́n ngài! Cuộc đời trần gian của tôi đây, bao gồm cả gia đ́nh của tôi, lẫn sự nghiệp tông đồ của tôi, sẽ chẳng bao giờ có, nếu tôi không được trực tiếp ở với ngài trong nửa số thời lượng tu tŕ 18 năm 2 tháng của tôi (1966-1975). Tôi hoàn toàn thâm tín như thế. Cái di sản vô giá ngài để lại cho tôi, đó là sự thánh thiện, là ḷng hăng say nên thánh, là t́m nước Chúa trước, là tinh thần tận hiến, là chính ID Đồng Công, Lư Tưởng Thánh Đồng Công.
Xin hăy đọc những lời chia sẻ chân t́nh này, theo chiều hướng qui về và bắt nguồn từ Cha Thánh Đaminh Maria Trần Đ́nh Thủ, với nhiều chi tiết liên quan tới bản thân người viết, những chi tiết chỉ mang tính cách chứng cớ để làm sáng tỏ một Sự Thật Rạng Ngời - Veritatis Splendor về Vị Linh Hướng Thánh của tôi.
Cha Thủ - Sống Thánh
|
H |
́nh ảnh sâu đậm của ngài nơi tôi đó là h́nh ảnh một vị linh mục Yêu Thánh, Sống Thánh và Huấn Thánh. Việc ngài Yêu Thánh được tỏ hiện, trước nhất, nơi việc ngài thường lấy gương Chúa Mẹ và Các Thánh (Tây phương) ra khuyên giục anh em ḿnh, và đặc biệt nhất, qua chính việc ngài Sống Thánh và Huấn Thánh. Riêng về việc ngài Sống Thánh, ngài đă được tiếng là “Cha Thánh Thủ” ngay từ khi c̣n ở ngoài Bắc. Có lẽ v́ bề ngoài người ta thấy cuộc sống của ngài khổ hạnh, ở chỗ ăn uống kham khổ, nằm ngủ dưới đất v.v., cuộc sống của một linh mục triều mà chẳng khác ǵ một tu sĩ khổ tu ḍng Biển Đức, một cuộc sống giống như Cha Sở Họ A ở bên Pháp là Cha Thánh Gioan Vianney. Người ngoài có thể c̣n không biết những ǵ ngài âm thầm sống khổ chế khác nữa, chẳng hạn như việc ngài tuyên hứa không găi ngứa, một việc khó làm chứ không dễ, trong khi ngài bị phong ngứa ở chân. Riêng tôi, tôi c̣n thấy dấu hiệu thánh thiện nơi ngài qua việc ngài cử hành Thánh Lễ. Ngài đă giành giờ dọn ḿnh dâng lễ mỗi ngày và tạ lễ sau đó hằng mấy tiếng đồng hồ. Dường như ngài đă dùng thời giờ cầu nguyện, suy gẫm và dọn lễ và tạ lễ bằng 15 tràng Mân Côi mỗi ngày. Có lần chính tôi giúp lễ cho ngài mà ngài cũng không biết là ai, v́ trong cuộc nói chuyện với ngài măi sau đó, tôi có nói đến một chi tiết trong Thánh Lễ ngài dâng th́ đă khám phá ra được điều này.
Thế nhưng, hầu như chỉ có anh em ḍng mới biết được vị sáng lập ḍng của ḿnh c̣n thánh thiện ở chỗ nào, ở một điểm khác nữa, liên quan tới tinh thần tu đức, đó là ḷng khiêm nhượng. Ngài không để cho ai khen ngài trước mặt, bằng không, đối với ngài, những lời khen tặng đó như là những lời nói phạm thượng, phạm đến chính Đấng “đă làm cho tôi những sự trọng đại” (Lk 1:49). Đó là lư do ngài đă nhận một câu tâm niệm cho đời sống thánh của ngài, một câu tâm niệm bằng tiếng Latinh, với hai chữ đầu là QP, nên ngài thường được anh em ḍng (khi nói với nhau) gọi ngài là "Anh QP" thế này thế kia, nếu không muốn gọi là Anh Cả, một danh xưng thường được dùng để trực tiếp thân thưa với ngài. QP là Quorum Primus, hai chữ cuối cùng trong câu Thánh Tông Đồ Phaolô nói về ḿnh ở Thư Thứ Nhất gửi môn đệ Timôthêu, đoạn 1 câu 15: “Chúa Giêsu Kitô đă đến thế gian để cứu các tội nhân. Trong đó, tôi là con người tội lỗi nhất”.
Phải, người Anh Cả của anh em tu sĩ ḍng Đồng Công mang biệt danh QP đây chính là “con người tội lỗi nhất”, bởi đó khen tặng “một con người tội lỗi nhất”, một con người thật ra chỉ đáng trách nhất, đáng bị nguyền rủa nhất, đáng đền tội nhất, đáng bị trừng phạt nhất, đối với ngài, quả thực là phạm thượng, là những ǵ không thể nào chấp nhận được. Đó cũng là lư do, hầu như không một bài huấn đức nào mà ngài không đề cập đến vấn đề “hạ ḿnh xuống, vui chịu khinh chê giầy đạp, chịu dể duôi bắt bớ”, như chính lời kinh nguyện ngài đặt ra cho anh em ḍng đọc hằng ngày. Thậm chí ngài c̣n dạy “hăy luôn nhận ḿnh là trái”, một lời khuyên thoạt nghe thật là chướng tai, nhưng lại hoàn toàn phản ảnh tinh thần của câu Phúc Âm nạn nhân phải tự đi làm ḥa trước với kẻ thù của ḿnh (x Mt 5:23-24). Đối với ngài, cái trở ngại lớn nhất trong việc nên thánh đây chính là cái tôi đầy tự ái của con người, không dẹp bỏ được nó th́ không thể nào nên thánh được, không thể nào theo Chúa nổi, đúng như chính Người đă khẳng định: “Ai muốn theo Thày th́ phải từ bỏ ḿnh đi, vác thập giá ḿnh hằng ngày mà theo Thày” (Mt 16:24); “Ai không vác thập giá ḿnh mà theo Thày th́ không xứng với Thày” (Mt. 10:38).
Ḷng khiêm nhượng của ngài quả thực đă đẹp ḷng Chúa, đến nỗi đă được Chúa đóng ấn bằng những hiểu lầm cả trong lẫn ngoài, nhờ đó, đức ái trọn hảo (perfecta caritas) của ngài càng được sáng tỏ, nhất là đối với những con người được Chúa dùng để giúp ngài nên thánh hơn, nên giống Chúa Kitô Khổ Giá hơn. Có thể nói cảm nghiệm tu đức nên thánh của ngài là “hạ ḿnh xuống, vui chịu khinh chê giầy đạp, chịu dể duôi bắt bớ”, như ngài đă trải qua, chẳng những trở thành những ǵ thâm tín nơi ngài mà c̣n là một nền tảng nên thánh mà ngài hết sức muốn truyền lại cho những ai muốn theo ngài nữa. Ở Việt Nam trước năm 1975, hầu như ít ai biết đến Ḍng Đồng Công, hay có biết đến th́ hầu như cái ấn tượng đầu tiên và chính yếu trong đầu của họ về hội ḍng này chỉ là những ǵ có vẻ quê mùa (chẳng có bằng cấp ǵ, đầu th́ care, thân mang áo khẩu v.v.), và kỳ cục (cá mè một lứa, trên dưới, cha thày ǵ cũng đều gọi nhau là anh em v.v.).
Thế mà, một hội ḍng hầu như vẫn bị coi thường như thế, "Thiên Chúa là Đấng toàn năng" lại sử dụng để "làm những việc lạ lùng" (Lk 1:49) tại hải ngoại, ngay trước mắt chẳng những Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam mà c̣n cả các vị thuộc hàng Giáo Phẩm Việt Nam (sang thăm Hoa Kỳ) nữa, đó là Ngày Thánh Mẫu hằng năm (liên tục từ năm 1978 tới nay, với con số tham dự từ 1500 vào năm đầu tiên lên tới 70 ngàn vào Năm Thánh 2000), một Biến Cố Thánh Mẫu hằng năm không thua ǵ Đại Hội Lavang vào trung tuần Tháng Tám ở Việt Nam). Chưa hết, để tiếp tục sống thân phận tôi tớ "không hưởng thụ nhưng phục vụ" theo khẩu hiệu của một hội ḍng vẫn chẳng là ǵ và hầu như vô danh tiểu tốt của ḿnh, những con người theo đuổi Lư Tưởng Thánh Đồng Công với Cha Thủ ở Chi Ḍng đă lập Nhà Hưu Dưỡng tại trụ sở trung ương Chi Ḍng, nơi tổ chức Ngày Thánh Mẫu hằng năm, và ngay từ tháng 7 năm 1977, đă được hân hạnh đón tiếp và phục vụ các Đức Cha và quư cha có tiếng tăm của Giáo Hội Việt Nam, trong đó có Đức Tổng Giám Mục Phêrô M. Ngô Đ́nh Thục, Đức Giám Mục Giacôbê Huỳnh Văn Của, cha nguyên Viện Trưởng Đại Học Đà Lạt Lê Văn Lư, cha nguyên Viện Trưởng Đại Học Huế Cao Văn Luận, cha nguyên chánh xứ La Vang, Quảng Trị, Phêrô Trần Điển...
Nói đến việc Sống Thánh của Cha Thủ, ngoài ra, không thể không kể đến một yếu tố nữa, hay một nhân đức nữa hết sức nổi bật của ngài, đó là niềm tin bất khuất, có lúc đến “liều lĩnh” của ngài. Người ta, kể cả anh em trong ḍng, vẫn không hiểu là ngài lấy tiền ở đâu để nuôi anh em. Vẫn biết là theo tinh thần “tự lực mưu sinh” của ḍng, anh em của ngài đă luôn luôn cố gắng thực hiện những việc kinh tài, không thuê mướn ai, chẳng hạn Trại Gà Thiện Chí (từ năm 1965), Ao Cá và cơ sở phát hành Nguyệt San Trái Tim Đức Mẹ ở Thủ Đức, đồn điền trà bơ mít Thiên Mẫu ở Di Linh Lâm Đồng (từ năm 1971) v.v. Thế mà cũng chẳng được bao nhiêu, nguyên cho vấn đề ăn mặc và di chuyển của anh em thôi, chứ chưa nói đến vấn đề chi phí cho các hoạt động tông đồ truyền giáo, chẳng hạn như Nhà Hưu Dưỡng cho các vị linh mục ở Thủ Đức (từ năm 1957), các trạm phát thuốc ở Qui Nhơn (từ năm 1957), cư xá Rạng Đông cho sinh viên miễn phí ở Đà Lạt (từ năm 1970) v.v. Cho tới nay, với con số anh em ḍng chỉ được ở một chỗ duy nhất là Thủ Đức lên tới cả 400-500 người, chẳng làm ăn ǵ cả, thế mà hằng ngày vẫn đủ cơm ăn áo mặc và các thứ chi dùng cần thiết cả 15 năm năm nay, đặc biệt từ khi Cha Thủ đột nhiên bị tống về không được ở tù từ chung thân xuống 20 năm nữa. Tiền ở đâu ra? Nếu là phép lạ hay sự lạ th́ phải chăng nhờ ở đức tin của vị sáng lập ḍng?
Đức tin của ngài chẳng những lạ lùng như thế song có lúc c̣n tỏ ra “liều lĩnh” nữa. Địa điểm truyền giáo rất nguy hiểm ở Nhà Đá giữa quận Phú Cát và Phù Mỹ, Tỉnh B́nh Định ngoài Qui Nhơn, nơi không một ḍng tu nào hay một vị linh mục triều nào dám bén mảng tới. Thế mà, anh em theo đuổi Lư Tưởng Thánh Đồng Công với ngài đă hiên ngang hoạt động ở đây suốt từ năm 1966 tới 1975 (trừ thời khoảng 1972-1974 không thể ở nổi v́ quá nguy hiểm). Họ đă từng nghe chiêu hồi về đêm, giữa cả bên quốc gia lẫn bên mặt trận giải phóng. Có những lúc quá nguy hiểm, họ đă phải đi bộ từ Nhà Đá về Quận Phù Mỹ vào khoảng chiều chiều, cách 6 cây số, để ngủ qua đêm, sang hôm sau trở lại tái sinh hoạt. Họ đă chứng kiến vào năm 1974 những chiếc cầu bị giật sập vào ngay sáng sớm, những buổi chợ bị đạn nổ ngay giữa ban ngày. Họ đă gặp những em học sinh trong trường đột nhiên bỏ học đi tập kích rồi bất ngờ xuất hiện vác súng về thăm bạn bè thày dạy.
Chính người viết này đă tận mắt thấy cái xác không đầu của đại úy đại đội trưởng Phước (đóng ở Phù Ly) bị phục kích ngay buổi trưa, xác nằm trên đường gần Dốc Truông, khi chiếc xe Jeep của ông từ quận Phù Mỹ về, một chiếc xe bị bắn bay sang bên kia đường, bốc cháy trên bờ ruộng cùng với xác người tài xế trong ấy. Cũng chính người viết này, trong số 7 người anh em đồng đội (cùng lớp khấn IX), ngay trưa hôm mới vào Tập Viện ngày 8/9/1966, đă bị lính quốc gia phục kích bắn, v́ tưởng là thành phần địch quân đang lẩn quẩn ở đầu Nhà Thờ Nhà Đá, nhưng may thoát chết. Biết bao nhiêu là trận đánh chung quanh khu vực nhà ḍng, và có biết bao nhiêu là người chết, ḅ chết (chó ở đây không bao giờ sủa) chung quanh nhà ḍng v́ bị trúng đạn, trúng ḿn, bị Mỹ bắn vào nhà khi họ bị phục kích bất ngờ, nhất là bởi những mảnh đại bác câu từ quận lên, rớt rào rào xuống trên mái tôn trong nội vi nhà ḍng. Thế mà, trong nhà ḍng, có lúc lên đến cả trăm anh em, suốt bằng ấy năm, không ai bị chết, thậm chí bị chảy một giọt máu. Một người đă từng ở cạnh nhà ḍng bấy giờ, đă từng vào nhà ḍng lấy thực phẩm hằng ngày, đó là một chú bé mang tên Phạm Quốc Tuấn, cháu của ông Quế là người bổ củi cho nhà ḍng, một cậu bé hiện đang là một trong những vị linh mục Việt Nam từng làm cha sở ở Giáo Phận Orange.
Đức tin của Cha Thủ chẳng những lạ lùng, liều lĩnh mà c̣n tinh khôn nữa. Như bài “Lênh Đênh Hải Ngoại: Vượt Thoát Hay Lên Đường” của tôi được Nguyệt San Hiệp Nhất phổ biến vào Tháng 7/2005 cho thấy, đối với người Việt hải ngoại nói chung và Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam hải ngoại nói riêng, chỉ có Ḍng Đồng Công là có ư tổ chức xuất ngoại ngay từ đầu tháng tư đen, theo lệnh của Cha Thủ, với mục đích “để giữ lấy ḍng và để truyền giáo”. Cái viễn kiến này của ngài đă hoàn toàn trở thành hiện thực, ở chỗ, ḍng của ngài chẳng những vẫn c̣n tồn tại, không bị tan vỡ trong biến cố chụp mũ của chính quyền, với hậu quả là chính ngài cùng với một số đông anh em ḍng bị xử án và tống ngục, mà c̣n phát triển ở hải ngoại nữa, qua hoạt động tông đồ nổi tiếng nhất cộng đồng Công Giáo Việt Nam là Ngày Thánh Mẫu Missouri hằng năm (từ năm 1978). Tuy nhiên, viễn kiến của ngài không phải chỉ là tác động khôn ngoan trần gian biết nh́n xa trông rộng, mà là tác động gắn liền với đức tin mănh liệt của ngài, đến nỗi, với một lực lượng 170 anh em di cư năm 1975, không một ai tự nhiên dám đứng ra nhận nuôi, bấy giờ mọi người trong cuộc đang lo có nguy cơ tan ḍng, nếu xẩy ra trường hợp mỗi người một nơi, hay từng nhóm nhỏ một chỗ, thế mà, Đấng Quan Pḥng Thần Linh đă lo cho đâu vào đấy, qua một con người được Ngài gửi tới vào đúng thời điểm của nó, đó là Đức Cha Bernard Law bấy giờ là giám mục Giáo Phận Sprinfield Cape-Girardeau Missouri, vị giám mục sau trở thành Hồng Y cai quản Tổng Giáo Phận Boston! Và vào chính ngày Quan Thày của vị sáng lập của ḿnh là 8/8/1975 đă trở thành ngày đoàn tụ lịch sử của toàn thể anh em Đồng Công lên đường xuất ngoại "để giữ lấy ḍng và để truyền giáo" theo lệnh của Đấng Sáng Lập, và nơi đoàn tụ thiên định này ở tại Carthage Missouri, một chủng viện của Ḍng các Cha Thừa Sai Vô Nhiễm vừa bỏ trống 5 năm trước.
Đó là việc Sống Thánh của Cha Đaminh Maria Trần Đ́nh Thủ, và nền tảng Sống Thánh (khiêm nhượng bỏ ḿnh và tin tưởng phó thác) chẳng những của ngài mà c̣n được ngài triệt để áp dụng cho những ai muốn cùng ngài theo đuổi Lư Tưởng Thánh Đồng Công nữa, tức muốn được ngài Huấn Thánh cho, muốn được ngài giúp cho đi vào con đường thánh thiện, muốn thực sự trở thành môn đệ của Chúa Kitô, nên nhân chứng trung thực của Chúa Kitô. Chính ngài đă thú nhận rằng mục đích ngài lập ḍng Đồng Công, một ḍng thuần túy Việt Nam đầu tiên, do người Việt thành lập cho người Việt, chứ không phải là ḍng ngoại quốc, ḍng do các Thánh Tây phương lập được du nhập vào Việt Nam, là để Huấn Thánh, để huấn luyện cho Việt Nam có Thánh, như Âu Tây, một châu lục có nhiều Thánh hiển tu - tại sao Việt Nam lại không thể!
Đối với riêng tôi, tôi vẫn cảm thấy đúng như những ǵ tôi đă viết trong cuốn “Sống Thánh Chứng Nhân” (Phong Trào Tông Đồ Fatima Thế Giới Việt Nam xuất bản năm 2006), trang 174, như sau: “thật thế, phải thú nhận rằng, mỗi khi nghe ngài giảng dạy, ḷng tôi không thể nào không cảm thấy bừng nóng lên như hai môn đệ đi Emmau nghe Chúa Giêsu giải thích Thánh Kinh trong cuộc hành tŕnh của họ (x Lk 24:32). Chưa hết, chẳng cần nghe ngài nói, chỉ cần trông thấy ngài thôi, tôi đă cảm thấy ḿnh ra sao và tự nhiên thấy được nhắc nhở phải nên thánh, phải sống thánh”.
Cho đến nay, về phương diện tu đức, tôi vẫn thực hành ba điều tối quan trọng trong những điều cần cho việc liên lỉ nên thánh theo Lư Tưởng Thánh Đồng Công được ngài chỉ dẫn, cũng là những ǵ được ghi ngay trong Tục Lệ Đồng Công. Thứ nhất, đó là, trước khi làm bất cứ một việc ǵ, nhất là những việc chính yếu trong ngày, nhớ dâng các việc làm và từng việc làm trong ngày cho Chúa, với ư thức là làm v́ Chúa và cho Chúa, chứ không phải làm theo sở thích và ư riêng. Thứ hai, thế rồi, đang khi làm, thỉnh thoảng tái nhận thức ư hướng ngay lành làm việc của ḿnh từ đầu, kẻo bị lệch lạc lúc nào không hay trong khi làm, lúc đầu v́ Chúa sau đó cho ḿnh (đó là lư do trong ḍng Đồng Công ngày xưa thường có chuông “Nhớ Mẹ” như để nhắc nhở nhau “Nhớ Mẹ”, sống thánh). Thứ ba, chưa hết, ngay cả sau mỗi việc làm, nhất là sau một ngày sống, phải “hồi tâm” lại xem ḿnh đă thực sự theo đuổi ḷng ham ước nên thánh trong khi làm việc đó hay chăng, trong ngày sống đó hay chăng. Việc hồi tâm xét ḿnh hằng ngày của tu sĩ Đồng Công, vào 7 phút thinh lặng trước kinh tối, buổi kinh chung được kết thúc bằng Kinh Lạy Nữ Vương – Salve Regina và phép lành cuối ngày của bề trên, không phải chỉ xét đến những lỗi lầm có vẻ tiêu cực, mà trước hết và trên hết xét tới t́nh trạng thánh thiện của ḿnh, đến ḷng ham ước nên thánh của ḿnh. Bởi v́, một khi đă hay đang sa sút ḷng nên thánh nồng cốt và chính yếu này, th́ mọi sự khác sẽ bị tụt xuống thôi, trái lại, c̣n hăng say nên thánh th́ tất cả mọi sự trở thành dễ dàng và tốt lành đẹp ḷng Chúa.
Ngoài ra, về bề ngoài, cho đến nay, tôi vẫn c̣n tiếp tục giữ "cái đầu Đồng Công", không phải chỉ là "cái đầu Đồng Công" về tinh thần như những ǵ tôi vừa bày tỏ trên đây, hay sắp bày tỏ dưới đây, mà c̣n là "cái đầu Đồng Công" về thể lư nữa. Tức là tôi hớt tóc kiểu "cái đầu Đồng Công" ngày xưa, trước năm 1975, một cái đầu kiểu gần như carê hay đầu lính, hoàn toàn giản dị và gọn ghẽ, chứ không chải tém vuốt ve (mà trước đây có thể được Cha Thủ cho là) có vẻ làm dáng, không hợp với những con người chỉ t́m kiếm Thánh trước hết và Thánh trên hết. Hai thằng con trai của tôi, một cháu 21 và một cháu 20 c̣n có cái đầu trọc hơn cả bố của chúng nữa. Hôm đó, cùng với tôi, các cháu cũng được hân hạnh diện kiến dung nhan của vị mà các cháu vẫn được bố các cháu nói rằng "không có ngài cũng chẳng có bố của các con như bây giờ, và do đó cũng chẳng có gia đ́nh này và chẳng có các con đặc biệt như hiện nay!"
Ngoài ra, trên ngực của tôi, tuy không đeo cỗ tràng hạt đen 150 kinh trước ngực như thày Tâm Phương Đồng Công tôi ngày xưa, nhưng đi đâu ra ngoài, dù diện áo vét, tôi cũng vẫn hiên ngang đeo ảnh Đức Mẹ Ban Ơn to trước ngực. Nhiều người đă nh́n thấy và hỏi tôi, nhất là những người đồng đạo tỏ vẻ vừa khâm phục vừa thắc mắc, tôi đă thẳng thắn thưa với họ rằng: "Tại sao ở Mỹ quốc tự do này, người ta làm được đủ thứ, đeo đủ thứ, cả nam lẫn nữ, nào là trên tai, trên mũi, trên môi v.v. lỉnh kỉnh như thế, mà chúng ta lại không lợi dụng tự do để sống đạo và làm chứng nhân, bằng những h́nh thức bề ngoài này chứ?" Tôi không biết họ có chấp nhận lập luận này của tôi hay chăng, nhưng tôi phải công nhận là cái gan sống thánh ấy không thể có nơi tôi, nếu không có “Cha Thánh Thủ” và từ “Cha Thánh Thủ”. Và có phải v́ thấy tôi c̣n "cái đầu Đồng Công" và ngực c̣n đeo tràng hạt bấy giờ, (v́ tôi quên ảnh Đức Mẹ Ban Ơn ở nhà bên Mỹ, nên lấy một cổ tràng hạt luôn mang theo trong người đeo thế, suốt từ Bắc vô Nam, làm cho một sơ thuộc Ḍng Khiết Tâm B́nh Cang Nha Trang nói rằng: 'cái anh này gan thật'), mà ngài c̣n thấy tần số thánh của ngài nơi tôi, nên đă hào hứng nói chuyện với tôi đến nửa tiếng hết sức ngoại lệ hay chăng?
Chưa hết, đă có một số lần, với tất cả niềm thâm tín của ḿnh, tôi đă nói trong Khóa Tĩnh Huấn của nhóm giới trẻ Thiếu Nhi Fatima được tôi hướng dẫn, cũng như với một số bạn đồng chí hướng Thánh trước hết và Thánh trên hết của tôi rằng: "Nếu chúng ta không dám nói 'tôi là ánh sáng thế gian', như Chúa Kitô đă định nghĩa về Kitô hữu chúng ta là thành phần môn đệ theo Người nói chung: 'Các con là ánh sáng thế gian' (Mt 5:14), th́ chúng ta không thể nào trở thành chứng nhân cho Người và của Người, Đấng chính 'là ánh sáng thế gian' (Jn 8:12). Chúng ta tự ḿnh thực sự không phải 'là ánh sáng thế gian', mà chỉ phản ảnh Chúa Kitô 'là ánh sáng thế gian' thôi. Chúa Kitô không dạy chúng ta phải ra trước phố xá hay lên mái nhà để công bố chúng ta 'là ánh sáng thế gian', nhưng Người muốn chúng ta luôn ư thức căn tính bất di bất dịch của ḿnh 'là ánh sáng thế gian', và sống căn tính ấy, trước hết và trên hết, bằng việc Sống Thánh Chứng Nhân của chúng ta, làm sao để chúng ta có thể trung thực và sống động phản ảnh Người 'là ánh sáng sự sống' (Jn 8:12). Nếu chúng ta không dám nhận ḿnh 'là ánh sáng thế gian', (không minh nhiên bằng lời nói hơn là mặc nhiên bằng việc Sống Thánh Chứng Nhân), v́ cho rằng nhận ḿnh như thế là kiêu ngạo, th́ chúng ta đă vô h́nh chung (hay cố t́nh) phủ nhận bản chất của Giáo Hội 'là truyền giáo' (Sắc Lệnh Ad Gentes, 2), đă sống ngược lại với căn tính Kitô hữu của ḿnh 'là ánh sáng thế gian', và như thế, chúng ta rơi vào t́nh trạng như Chúa Giêsu đă nói với vị nghị viên lăo thành Nicôđêmô là 'chuộng tối tăm hơn ánh sáng' (Jn 3:19), 'ghét ánh sáng, không dám đến gần ánh sáng... (sợ ánh sáng)' (Jn 3:19)". Thậm chí, với kinh nghiệm Sống Thánh Chứng Nhân qua nhiều hoạt động tông đồ giáo dân khác nhau, tôi đă bạo gan mạnh miệng phấn khích các đồng nghiệp tông đồ của tôi, những người tỏ ra nản chí hay muốn bỏ cuộc rằng: "Không có máu tử đạo không thể nào làm việc của Chúa và cho Chúa"!
Cha Thủ - Huấn Thánh
|
T |
ất cả những tâm thức tôi có được về việc Nên Thánh hay Sống Thánh như thế đều hoàn toàn xuất phát từ “Cha Thánh Thủ”, vị đă cưu mang tôi và đớn đau hạ sinh ra tôi, như Thánh Tông Đồ Phaolô với các giáo đoàn Kitô Giáo tiên khởi do thánh nhân thành lập (Gal 4:19; cũng xem 1Cor 4:14-15; 1Thes 2:7-8). Đúng thế, cũng chính v́ Lư Tưởng Thánh Đồng Công này mà bản thân “Cha Thánh Thủ” đă phải chấp nhận những giá hy sinh khôn lường, chẳng những từ bên ngoài trong thời gian mới thành lập ḍng, mà nhất là từ nơi chính nội bộ ḍng của ngài. Phải chăng v́ Lư Tưởng Thánh Đồng Công ngài đề ra quá cao? Trong lúc Ḍng Thừa Sai Bác Ái của Mẹ Têrêsa Calcutta bên Ấn Độ, cũng được thành lập vào thời điểm (7/10/1950) với ḍng của ngài (Ṭa Thánh Châu Phê Hiến Pháp Đồng Công ngày 15/12/1952), phát triển nhanh nhất và rộng nhất trên khắp thế giới, hơn bất cứ một ḍng nào khác trong lịch sử Giáo Hội, th́ ḍng của ngài chỉ vỏn vẹn ở Việt Nam thôi mà đă có lúc trải qua một cuộc khủng hoảng đến nỗi chính ngài cương quyết đánh liều thực hiện một cuộc “mở sổ khấn” (năm 1968) để ai muốn ra th́ ra, c̣n tu phải cho ra tu! Chính hành động dứt khoát không chấp nhận thái độ “ương ương dở dở” (Rev 3:16) này của ngài nơi những ai muốn theo đuổi Lư Tưởng Thánh Đồng Công với ngài đă là những ǵ cho thấy ngài coi trọng vấn đề Nên Thánh là chừng nào, thậm chí bất chấp cả chính thành phần anh em vốn được ngài yêu thương chẳng khác nào ruột thịt của ngài, như chính Chúa Giêsu đă cương quyết bảo vệ đường lối nên trọn lành của Người, thà bị thiệt hại mất mát, như trong trường hợp nhiều môn đệ bỏ đi sau bài giảng về Bánh Hằng Sống (x Jn 6:60-69), hay trong trường hợp của người thanh niên giầu có bỏ đi sau khi nghe Người ra điều kiện nên trọn lành quá tầm tay với của ḿnh (x Mt 19:20-22).
Chủ trương Thánh trước hết và Thánh trên hết này của Cha Thủ, cho dù có phải trả giá đến đâu chăng nữa, liên quan tới bản thân ngài, hay tới t́nh trạng mất mát về nhân sự, chẳng những đă hợp với đường lối và thái độ của Chúa Giêsu trong Phúc Âm, mà c̣n hợp với cả Giáo Hội nữa, điển h́nh là Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, vị Giáo Hoàng đă mở màn cho Giáo Triều dài 26 năm rưỡi của ḿnh vào ngày Chúa Nhật Lễ Đăng Quang 22/10/1979 bằng lời kêu gọi riêng Giáo Hội lẫn chung thế giới rằng: “Đừng Sợ, hăy mở rộng cửa cho Chúa Kitô”, một lời kêu gọi đă được ngài dẫn giải trong tác phẩm “Vượt Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng” của ngài (ấn bản Anh ngữ, trang 222), liên quan tới thái độ dứt khoát theo Chúa và nên trọn lành theo Phúc Âm như sau: “Phúc Âm thực sự là những ǵ gay go đ̣i hỏi. Chúng ta biết rằng Chúa Kitô đă không cho phép các môn đệ của Người và những ai lắng nghe Người ôm ấp một ảo tưởng nào về vấn đề ấy. Trái lại, Người đă không bỏ qua một nỗ lực nào để sửa soạn cho họ chấp nhận mọi thứ khó khăn trong ngoài, dù luôn biết rằng họ có thể quyết định đi đến chỗ ĺa bỏ Người”.